nguyễn trinh thi

video and moving image works

“Jo Ha Kyu” – một thử nghiệm mới mẻ của Nguyễn Trinh Thi

“Jo Ha Kyu” – một thử nghiệm mới mẻ của Nguyễn Trinh Thi

Bài của Ngô Thanh

Nếu nhìn vào các tác phẩm của Nguyễn Trinh Thi, chúng ta có thể nhận ra một xu hướng xóa nhòa ranh giới thể loại: tài liệu, video art, phim thử nghiệm. Với chị, tôi thấy sự xuất hiện của một kiểu nhà làm phim mới: nghệ sĩ hình ảnh chuyển động (moving image artist), nghĩa là, chị không còn cam kết mình với một cơ chế thể loại mà có xu hướng độc lập hơn trong sáng tạo khi thử nghiệm trên đơn vị cơ sở của phim: hình ảnh chuyển động; từ đó tạo ra một không gian cá nhân, đậm chất phản tư trong các tác phẩm của mình. Điều này bộc lộ thành quá trình nếu chúng ta quan sát Unsubtitled (2010), Chronicle of a Tape Recorded Over (2011) và gần đây nhất là Jo Ha Kyu (2012). Có thể nói rằng, Jo Ha Kyu là bước thay đổi dày dạn trong ngôn ngữ nghệ thuật của đạo diễn bởi ở đây, theo tiêu chí của tôi, chị tạo ra một tác phẩm có độ trừu tượng khi hòa điệu của âm thanh – hình ảnh – montage đã giải phóng ràng buộc của chất liệu để đi đến thể hiện những trạng thái khó nắm bắt hơn.

1. Jo Ha Kyu – nhà làm phim có thể tạo Chất thơ như thế nào trên ngôn ngữ hình ảnh

Chất thơ của ngôn ngữ hình ảnh không chỉ là cảm giác trữ tình của nội dung hình ảnh mà còn là khả năng trừu tượng trong cách thể đạt thông điệp của nó.
Điểm đầu tiên mà người xem cảm thấy bị thách thức là yếu tố tự sự (narrative) của Jo Ha Kyu. Trinh Thi chia sẻ: tôi muốn kết hợp yếu tố tự sự và phi tự sự trong tác phẩm này. Thực tế, Jo Ha Kyu có một cấu trúc tự sự khá chặt chẽ: đó là một giấc mơ – hành trình khám phá vô thức của cô bé 7 tuổi. Đạo diễn tạo ra không gian giấc mơ bằng lối xử lý hình ảnh truyền thống: bắt đầu bằng gương mặt của những hành khách đang ngủ trên một chuyến tầu, trong đó có cả gương mặt của cô bé An (con gái chị); đến quá nửa bộ phim thì gương mặt cô bé quay trở lại; và kết thúc bằng không gian đầu phim, tạo thành một vòng khép kín. Ở giữa phim là các phiến ảnh liên kết rất lỏng lẻo trên phương diện tự sự bề mặt nhưng lại móc nối với nhau một cách tinh tế bằng phương diện tự sự bề sâu được tạo ra bởi mạng lưới liên tưởng nhờ liên kết hình họa và thiết kế âm thanh. Chính một cấu trúc chặt chẽ trên tổng thể mà vẫn đầy những khoảng trống, những rò rỉ tự sự trên chi tiết, tình huống đã mở ra một cuộc chơi hình ảnh phóng túng, một trạng thái bấp bênh thú vị của cuộc rượt đuổi ý nghĩa; từ đó đi đến thách thức quá trình đồng nhất hóa tâm lý/ chủ thể đối với thế giới phim – một hoạt động gây bất ổn cho “bản dạng” (identity).
Thách thức thứ hai là thông điệp của bộ phim?. Như đạo diễn bộc bạch, bộ phim là cảm nhận cá nhân về Tokyo sau trận động đất: cuộc sống nơi đây yên bình, bằng phẳng tưởng như chưa từng có cơn khủng hoảng nào đi qua. Nhưng chị vẫn cảm thấy trạng thái bất an ngầm ẩn, lẩn khuất khắp nơi. Để hiện hữu cái vô hình ấy Trinh Thi đã sử dụng thiết kế âm thanh đầy chủ ý. Cũng giống như trạng thái “hiểm nguy” cho sự đứng vững của một tổng thể ở phương diện tự sự, phối âm trong Jo Ha Kyu thường xuyên có những rẽ ngoặt bất ngờ để tạo lớp cho âm thanh, tạo ra những va chạm giữa tĩnh – động, những chuyển di giữa thực – trừu tượng. Tôi thích cách chị đưa âm thanh động đất được thu lại từ lòng đại dương. Thứ rung chấn này trở thành nỗi ám ảnh khi âm điệu của nó hồi cố trong âm thanh của các chuyến tàu, tiếng ve. Cảm giác sợ hãi, rợn ngợp đã chìm lắng vào vô thức, rồi từ đây sẽ vĩnh viễn tạo nghĩa cho thế giới hiện thực xung quanh: thời gian đã đi vào không gian như thế, như một lời bình trong Sans Soleil: “Không gian chính là cái chóng mặt của thời gian”….Âm thanh – chấn thương đặc biệt ấn tượng ở đoạn Trình diễn của người đàn ông trần truồng. Tại một khoảnh khắc nào đó, âm thanh động đất sống lại rõ rệt trong tiếng thuỳnh thuỵch, sức mạnh hủy hoại tàn bạo của nó hiện hữu trên da thịt trần trụi. Đạo diễn đã đẩy tính bạo lực lên bằng hiệu ứng quay chậm: lúc đó, người ta không còn là hình hài mà là thứ da thịt bấy bớt, yếm thế.
Với xu hướng làm phim phản thân thì thông điệp của Jo Ha Kyu còn nằm ở khía cạnh bàn luận về giới hạn của phương tiện (hình ảnh chuyển động) trong sự phản ánh hiện thực (Tokyo). Tôi sẽ đi vào làm rõ điều này trong phần 2 của bài viết.

2. Jo Ha Kyu – quan niệm “Hình ảnh chuyển động” và “Khả năng nắm bắt hiện thực”

Trinh Thi nhận thức rất rõ chị đang không làm phim về Tokyo mà là cảm giác và trải nghiệm cá nhân của chị với tư cách một người ngoài (outsider). Hơn nữa, chị nói rằng khi làm Jo Ha Kyu chị được gợi hứng rất nhiều từ Sans Soleil của Chris Marker – một bộ phim phá vỡ huyền thoại về khả năng tái hiện hiện thực; cụ thể, không gian không còn thuần nhất nguyên khối mà vỡ vụn thành các phân mảnh, nó trở thành vòng xoáy thăm thẳm của thời gian, kí ức, những trải nghiệm chợt vụt nhòe nhoẹt. Người quan sát thường xuyên bị đẩy ra mép rìa bởi những khoảng trống rỗng, những hình ảnh – ngôn ngữ không thể kết nối được với chủ thể. Anh ta nếm trải trạng thái chân không, trôi dạt bập bềnh, một trạng thái không gốc rễ, một nỗi đau thăm thẳm khi ý nghĩa nứt ra từ sự khác biệt và trở nên không có nơi trú ngụ.
Thật vậy, Jo Ha Kyu là tổ hợp của những vết tích. Có người nhận ra điểm tương đồng giữa Jo Ha Kyu và Man with a movie camera của D. Vertov bởi cả hai bộ phim đều thể hiện hình ảnh một thành phố và nổi bật lên thủ pháp montage. Tuy nhiên điểm khác biệt cơ bản nằm ở mối quan hệ giữa nhà làm phim và hiện thực được phản ánh và vì thế, nếu ở Man with a movie camera, máy quay thể hiện sức mạnh toàn tri của nó với niềm phấn khích, hào hứng làm chủ thế giới của đạo diễn thì ở Jo Ha Kyu là cảm giác về giới hạn, trạng thái bất lực trước sự vuột trôi của con đường đi vào thế giới; giống như chia sẻ của chị: khi nhìn thấy An đi phía trước rất xa hai vợ chồng, chị có cảm giác như đang mất dần cô bé. Cô bé đang lớn lên và không còn nằm trong vòng tay bao bọc của mẹ nữa. Trong phim, chị sử dụng nhiều jump-cut, từ chối sự đủ đầy, trọn vẹn của tiến trình, hành động. Cảm giác phù du, mong manh của hình ảnh xuất hiện ngay trong một khuôn hình: những đoàn tàu siêu tốc như nghiền nát con người, để lại những vệt xước tràn lấp.
Vị trí kẻ bên ngoài được thể hiện đậm đặc trong đoạn chị dựng liên tiếp những “cái nhìn” (gaze). Nếu như trước đó, đạo diễn dùng chiếc máy quay để nhìn con người và cảnh vật xung quanh thì đến đoạn này, chị “bị nhìn” lại. Đây là thời điểm có độ “căng”/ thách thức đối với “bản dạng” (identity). Cảm giác này rõ rệt hơn khi những giây cuối cùng của chuỗi hình ảnh là chiếc mặt nạ trong kịch truyền thống Nhật Bản có điểm tương đồng nào đấy với gương mặt cô bé An – giây phút “bản dạng” trở nên lỏng lẻo, sóng sánh, bẩt ổn.
Có thể thấy, Jo Ha Kyu là một hành trình trải nghiệm/ “kiểm tra” cá nhân (từ dùng của T. Corrigan – chuyên gia về phim Essay đến từ Đại học Pennsylvania, đã có dịp nói chuyện ở DOCLAB vào tháng 5/ 2012). Như đạo diễn phát biểu, chị để cho Tokyo tràn ngập vào mình và như thế làm phim là một quá trình khám phá ra một cái Tôi mới, chào đón những khả năng cho sự thay đổi “bản dạng”, suy tư lại những giả định/ thành kiến cố hữu… Và một điều cuối cùng, với tôi, Jo Ha Kyu là một sự giải phóng.
Hà nội, tháng 6, 2012

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: